Trong đợt công nhận Bảo vật quốc gia năm 2025 vừa qua, cùng với các hiện vật đặc biệt quý hiếm, có giá trị nổi bật, đại diện xuất sắc cho các giai đoạn lịch sử, văn hoá Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia trình hai hồ sơ bảo vật, trong đó có hồ sơ về tượng Nữ thần Durga - hiện vật được đưa về Bảo tàng thông qua hồi hương cổ vật theo Công ước 1970 của UNESCO về các biện pháp ngăn cấm và phòng ngừa xuất, nhập khẩu và chuyển giao trái phép quyền sở hữu tài sản văn hóa.
1. Quá trình hồi hương tượng nữ thần Durga
Ngày 22/6/2022, trên website của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đăng thông báo về việc tịch thu 12 triệu USD và bức tượng đồng từ thế kỷ VII có nguồn gốc Việt Nam. Đây là vụ tịch thu cổ vật văn hoá có giá trị lớn nhất từ trước đến nay. Cụ thể, năm 2019, các điều tra viên của Văn phòng Điều tra An ninh Nội địa tại New York đã truy tố ông Douglas Latchford, một nhà sưu tầm và buôn bán đồ cổ, quốc tịch Anh, đã phạm tội buôn lậu nhiều di vật văn hoá Khmer trên thị trường quốc tế bằng cách làm giả giấy tờ để che giấu nguồn gốc. Vào tháng 9/2020, bản cáo trạng đã bị bác do Douglas Latchford chết. Latchford đã thu được hơn 12 triệu USD từ việc buôn lậu các di vật này qua tài khoản ngân hàng tại Bailiwick of Jersey (Vương quốc Anh). Vào khoảng năm 2008-2009, Latchford đã tới Việt Nam để mua một bức tượng đồng nữ thần Durga bốn tay có niên đại từ thế kỷ VII bằng số tiền thu được từ buôn lậu. Sau quá trình dàn xếp pháp lý với nguyên đơn, con gái Latchford, luật sư quận Nam New York đã phán quyết tịch thu 12 triệu USD và tượng đồng Nữ thần Durga.
Trước đó, ngày 21/6/2022, Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng đã tiếp ông Mark Vlasic, luật sư và giảng viên luật Đại học Georgetown, cố vấn cho Tổng giám đốc UNESCO về bảo vệ di sản văn hoá. Ông Mark Vlasic đã thông tin trước về vụ việc trên và cho biết thêm tượng đồng Durga hiện đang ở London (Vương quốc Anh), được chuyên gia định giá 18 triệu USD và dự kiến sẽ trao trả cho Đại sứ quán Việt Nam tại Anh vào cuối tháng 8/2023.
Sau khi nhận được thông tin từ Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh đã tiến hành làm việc với Bộ Ngoại giao và các cơ quan chức năng của Anh về bức tượng. Trên cơ sở đó, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh đã có các Công điện đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho ý kiến về việc tiếp nhận bức tượng đồng Nữ thần Durga. Đồng thời, qua các Công điện, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh cũng đã nêu lên các phương án tiếp nhận và vận chuyển tượng đồng Nữ thần Durga về Việt Nam.
Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, từ giữa tháng 8/2023, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã xây dựng kế hoạch và phương án tiếp nhận, vận chuyển tượng đồng Nữ thần Durga về Việt Nam. Với sự nỗ lực và tinh thần trách nhiệm, kêu gọi các đối tác, nhà sưu tầm tài trợ kinh phí, đầu năm 2024, đoàn cán bộ Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cùng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và các nhà tài trợ đã sang Anh để xác định tình trạng, giá trị và giám sát việc đóng gói, vận chuyển hồi hương tượng đồng Nữ thần Durga. Ngày 21/02/2024, tượng Nữ thần Durga đã về đến sân bay Nội Bài (Hà Nội), sau đó được đưa về lưu giữ và bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia sau 15 năm bị bán trái phép, lưu lạc ở nước ngoài.
Các chuyên gia tiến hành đóng gói tượng Nữ thần Durga theo tiêu chuẩn bảo quản quốc tế, chuẩn bị cho hành trình hồi hương về Việt Nam
Lễ công bố kết quả tiếp nhận hồi hương tượng nữ thần Durga
2. Tượng Nữ thần Durga
2.1. Trong Ấn Độ giáo, Durga là Nữ thần tối cao, còn được biết đến với tên gọi Devi và Shakti. Năng lượng nữ tính thiêng liêng trong Ấn Độ giáo vừa mang tính số ít vừa mang tính số nhiều và là Nữ thần phổ quát duy nhất - Mahadevi, và đồng thời là một tập hợp các nữ thần riêng lẻ, trong đó Durga là một trong những hình thức quan trọng nhất. Nữ thần Durga được tôn kính khắp Ấn Độ, đặc biệt là ở các bang phía đông. Nữ thần cũng là một vị thần quan trọng ở Nepal và xuất hiện trong các truyền thống Phật giáo, Jaina và Sikh. Lễ hội Durga Puja và Navratri, được tổ chức hàng năm để tôn vinh, là một trong những lễ hội lớn của tiểu lục địa Ấn Độ. (một phần của Những tài liệu tham khảo về Durga xuất hiện trong một số kinh sách tiếng Phạn cổ nhất. Nữ thần Durga được nhắc đến trong các bài thánh ca từ Rigveda và Atharvaveda ( khoảng 1.500 - 1.200 trước Công nguyên). Hai văn bản từ các tác phẩm Hindu được gọi chung là Puranas được dành riêng cho nữ thần: Devi MahatmyaMarkandeya Purana; thế kỷ thứ 5 hoặc 6 sau Công nguyên) và Devi Bhagavata Purana (giữa thế kỷ thứ 6 và 14 sau Công nguyên). Những tài liệu tham khảo về nữ thần Durga cũng có thể được tìm thấy trong các sử thi Ấn Độ Ramayana và Mahabharata. Theo truyền thuyết, Durga được các vị thần nam trong thần thoại Hindu tạo ra để tiêu diệt con quỷ Mahishasura. Mahishasura được Brahma ban cho ân huệ khiến hắn bất khả chiến bại trước đối thủ nam, và hắn cùng quân lính của mình đã tấn công các vị thần và đuổi họ khỏi cõi trời Svarga. Bất lực trước kẻ thù, các vị thần, đứng đầu là bộ ba Brahma, Vishnu và Shiva, đã kết hợp sức mạnh của mình để tạo ra một nữ thần có sức mạnh chiến đấu và trang bị cho bà những vũ khí của chính họ (Trishul: cây đinh ba, từ thần Shiva; Luân xa Sudarshan: đĩa, từ Vishnu; Hoa sen: do Brahma ban tặng; Vajra: tia sét, từ thần sấm sét Indra;Ngọn giáo: từ thần lửa Agni; Thanh kiếm: từ thần Ganesha; Cung tên: từ thần gió Vayu; Shankha: vỏ ốc xà cừ, biểu tượng của thần nước Varuna; Rìu: từ người thợ thủ công thần thánh Vishvakarma và Rắn: do Shiva ban tặng). Mang trong mình năng lượng tập thể (Shakti) của họ, Durga vừa là hiện thân của các vị thần nam, vừa là nguồn gốc thực sự của sức mạnh nội tại của họ. Bà cũng vĩ đại hơn bất kỳ ai trong số họ. Vì vậy, Nữ thần Durga còn được mang danh là Nữ thần hung dữ (Goddess of Fierce).Tên của nữ thần Durga có ít nhất là 108 tên và danh sách tên ( namavali) của bà được đọc tụng trong các nghi lễ. Danh sách này bao gồm chín hình dạng của nữ thần được thờ phụng trong lễ hội Navratri. Chín hình dạng này, được gọi chung là Navadurga, đại diện cho vòng đời của nữ thần, từ thời thơ ấu đến khi trở thành người diệt trừ ma quỷ và đạt được giác ngộ tâm linh, gồm: 1. Shailaputri (Con gái của thần Núi): Parvati lúc nhỏ; 2. Brahmacharini (Nữ sinh): giai đoạn khổ hạnh; 3. Chandraghanta (Chuông hình lưỡi liềm): hình thức chiến binh; 4. Kushmanda (Trứng vũ trụ): hiện thân của Shakti; 5. Skandamata (Mẹ của Skanda): giai đoạn làm mẹ; 6. Katyayani (“Kẻ giết quỷ”): dạng đặc trưng của Mahishasuramardini; 7. Kalaratri (“Nữ thần Bóng đêm”): hình thức hủy diệt; 8. Mahagauri (“Sự rực rỡ vĩ đại”): giai đoạn phục hồi; 9. Siddhidhatri (“Người ban sức mạnh siêu nhiên”): hình thức tiến hóa cao nhất. Nữ thần Durga và các hóa thân của bà có hình dáng khác nhau và được miêu tả tương ứng trong nghệ thuật, điêu khắc và các tượng thần được tạo ra trong các lễ hội. Hình ảnh được thờ cúng trong lễ hội Durga Puja thường thể hiện bà đang giết quỷ Mahishasura. Năm hóa thân cuối cùng (Skandamata, Katyayani, Kalaratri, Mahagauri và Siddhidhatri) đều có 4 tay; Shailaputri và Brahmacharini có 2 tay, và Chandraghanta và Kushmanda lần lượt có 10 và 8 tay. Vahana, hay vật cưỡi, rất đa dạng, từ không có (Brahmacharini) đến hổ hoặc sư tử, bò Nandi (thường là vật cưỡi của Shiva), lừa, bò đực và hoa sen. Trong chín hình dạng, Mahagauri nổi tiếng về vẻ đẹp, còn Kalaratri thì luộm thuộm và có vẻ ngoài đáng sợ. Kali hung dữ, thường được đồng nhất với Kalaratri, thể hiện khía cạnh đáng sợ nhất của nữ thần: bà có mái tóc hoang dã và chiếc lưỡi thè ra, và bà đeo vòng hoa bằng đầu lâu. Durga Puja là lễ hội chính để tôn vinh nữ thần Durga - một lễ hội truyền thống ở các bang phía đông Ấn Độ. Lễ hội được tổ chức rất long trọng trong năm ngày ở Tây Bengal, Assam, Tripura, Odisha, Bihar, Jharkhand và phía đông Uttar Pradesh. Qua nhiều năm, Durga Puja đã trở thành một lễ hội phổ biến ở các trung tâm đô thị trên khắp miền bắc và tây Ấn Độ, như Delhi và Mumbai, và trong các cộng đồng người Ấn Độ ở nước ngoài. Lễ hội song song Navratri được tổ chức trên khắp miền bắc, tây và trung Ấn Độ. Durga Puja và Navratri kết thúc lần lượt vào ngày Vijayadashami và Dussehra, tượng trưng cho sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác vào ngày thứ 10. Durga Puja được tổ chức trong 4 ngày ở Bangladesh, quốc gia đa số theo đạo Hồi. Ở Nepal, đây là lễ hội chính, được gọi là Dashain. Durga cũng xuất hiện trong các tôn giáo khác ở tiểu lục địa Ấn Độ, mặc dù bà không được thờ cúng một cách tích cực. Trường phái Phật giáo Kim Cương thừa đã tiếp nhận một số vị thần Hindu, bao gồm cả Durga, vào truyền thống tôn giáo của mình. Hình ảnh của nữ thần với tên gọi Mahishasuramardini đã được tìm thấy tại các địa điểm Phật giáo ở Ấn Độ và các quốc gia khác, chẳng hạn như Indonesia. Nữ thần Phật giáo Tara thường được đồng nhất với Durga. Các nữ thần Phật giáo ở Nepal, Nhật Bản và Tây Tạng cũng có những thuộc tính chung với Durga hoặc các hình thức liên quan của bà. Hình tượng của Durga xuất hiện trong một số ngôi đền Jain cổ, bao gồm cả những ngôi đền trong hang động Ellora. Nữ thần được nhắc đến và ca ngợi trong kinh sách Dasam Granth của đạo Sikh, thường được liên kết với Guru Gobind Singh, vị lãnh đạo tinh thần thứ 10 của tôn giáo này. Tại Việt Nam, hiện biết, có tượng Nữ thần Durga là tác phẩm tiêu biểu của văn hóa Óc Eo, thế kỷ VII - VIII, được tạc bằng đá sa thạch, tìm thấy tại Trà Vinh vào năm 1902, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh.
Trong văn hóa Champa, một nền văn hoá cũng chịu ảnh hưởng lớn từ Hindu giáo của Ấn Độ, hình tượng Nữ thần Durga được nhắc tới trong nhiều bia ký và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau cùng những hoá thân và tên gọi khác nhau như Devi, Parvati, Saraswati, Kali hay Mahishasuramardini…, nhưng dưới dạng tượng tròn và được đúc bằng kim loại thì bức tượng được hồi hương lần này là hiện vật đầu tiên và duy nhất hiện biết về tượng nữ thần Durga.
2.2. Tượng Nữ thần Durga được đúc bằng hợp kim đồng, loại tượng tròn, có thể khối lớn, với chiều cao toàn bộ 191cm (riêng phần tượng Nữ thần cao 157cm, tương đương với người thực). Nữ thần thể hiện trong tư thế đứng, lệch (lắc) hông, thân để trần, mặc sarong dài. Đầu tượng được thể hiện một cách tỉ mỉ, tinh tế. Tóc được tết thành nhiều tết và búi cao trên đầu. Búi tóc này được thắt thành ba tầng bởi hai lọn tóc buộc ngang ở giữa rồi buông đầu mối ra hai bên. Khuôn mặt hình trái xoan, cặp mắt có tròng khép hờ, lông mày cong, mũi cao, miệng cười mỉm, cằm tròn, cổ cao 3 ngấn. Thân tượng được tạo tác cao, thon và cân đối. Thân trên để trần, ngực căng tròn, bụng thon, thể hiện các nếp nhăn lộ rõ, trước bụng thắt dây tạo hình hoa. Thân dưới mặc sarong hai lớp chảy dài đến tận cổ chân.
Tượng nữ thần Durga
Tượng có bốn tay, hai tay phía trên giơ ngang vai, hai tay phía dưới giơ ra phía trước, vuông góc với thân, các vật cầm đã mất. Đôi chân để trần, bàn chân to bè, rõ các ngón. Dưới hai bàn chân gắn chốt cắm hình tam giác, phía cuối chốt có một lỗ tròn. Toàn thân tượng có hiện tượng bị ăn mòn, oxy hóa, rỉ, có nhiều vết nứt, sứt nhỏ. Đỉnh đầu có vết sứt, 2 bên tai sứt mất mảnh. Mất các vật cầm ở 4 tay. Ngón tay út và áp út bàn tay phải phía dưới bị gãy, nứt đã được gắn lại. Bàn chân phải nứt đã được gia cố, gắn chắp.
Trên cơ sơ nghiên cứu, đánh giá bằng phương pháp chuyên gia cùng sự hỗ trợ của các phương pháp khoa học tự nhiên, xác định thành phần hợp kim của hiện vật, có thể xác nhận tượng Nữ thần Durga là hiện vật gốc. Đặc biệt, trong quá trình xử lý vụ án, Hội đồng Nghệ thuật Anh đã thẩm định, xác định pho tượng có niên đại thế kỷ VII và đề xuất giá trị tượng trưng của bức tượng này là 14.184.397 bảng Anh (khoảng 480 tỷ đồng Việt Nam).
Chi tiết khuôn mặt tượng Nữ thần Durga
Sau khi pho tượng được đưa lưu giữ, bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Bảo tàng đã tổ chức thành lập Hội đồng gồm các chuyên gia về lịch sử, khảo cổ, văn hóa, nghệ thuật và cổ vật để đánh giá hiện trạng, xác định rõ tính chất, niên đại, nguồn gốc và giá trị của tượng đồng Nữ thần Durga. Hội đồng đã kết luận: “Tượng Nữ thần Durga được đúc bằng hợp kim đồng, có thể khối lớn, hiện trạng còn tương đối nguyên vẹn, có niên đại khoảng thế kỷ VII, thuộc văn hóa Champa (Việt Nam), là hiện vật quý, hiếm, rất có giá trị về lịch sử, văn hóa nghệ thuật…”.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã tổ chức lấy mẫu, phân tích thành phần hợp kim đồng của pho tượng. Kết quả phân tích thành phần hợp kim cho thấy pho tượng Nữ thần Durga được đúc bằng hợp kim có tỉ lệ đồng - thiếc - chì, tương đồng với hợp kim truyền thống của thời đại pho tượng được sản sinh. Tỷ lệ kim loại và đặc điểm hợp kim này tương đồng với các hiện vật đồng Champa niên đại thế kỷ VII, được khai quật tại Quảng Khê, Trung bộ vào tháng 2 năm 1929, hiện lưu giữ tại kho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia... chứng minh tính xác thực, niên đại và nguồn gốc bản địa của pho tượng.
3. Giá trị đặc sắc của tượng nữ thần Durga
Có thể nói, tượng đồng Nữ thần Durga được hồi hương là hiện vật có nhiều giá trị đặc sắc và độc bản, là hiện vật duy nhất hiện biết trong nghiên cứu và nhận thức về văn hóa Champa.
- Chúng ta biết rằng, hình tượng Nữ thần Durga đã được nhắc tới trong nhiều bia ký và được thể hiện dưới nhiều hình thức và hoá thân khác nhau trong nghệ thuật Champa, như nữ thần xuất hiện dưới dạng phù điêu trên các trán cửa (tympan) ở tháp Mỹ Sơn C1, A1; trên các bức phù điêu lớn ở Ưu Điềm và Hạ Nông Trung (nay thuộc xã Điện Bàn Tây, Đà Nẵng); xuất hiện với hình dáng là nữ thần chiến binh Durga giết quỷ đầu trâu trên các mi cửa chất liệu đá khu đền tháp ở Mỹ Sơn E4, Chiên Đàn (nay thuộc xã Tây Hồ, TP. Đà Nẵng), Po Nagar (TP. Nha Trang), Tháp Mắm/Mẫm (nay thuộc phường An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai)…Tuy nhiên, Nữ thần Durga thể hiện dưới dạng tượng tròn, tư thế đứng thì ít xuất hiện trong nghệ thuật Champa.
Một trong những pho tượng Durga thuộc văn hóa Champa hiếm hoi đó là pho tượng đá, được phát hiện tại Làng Bích La, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay thuộc xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị), hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Guimet, Cộng hòa Pháp. Tượng được tạc bằng đá, cao 107cm, thể hiện nữ thần Durga đứng, có búi tóc (jata) trên đầu gồm những chuỗi tóc vấn lên cao, được giữ bởi hai chuỗi tóc tết ngang, trán có con mắt tứ 3, hình thoi có chấm giữa. Thân trên để trần với bộ ngực đầy đặn, sát nhau, hơi chảy xuống bụng. Thân dưới mặc sarong hai lớp chồng lên nhau.
Một pho tượng Durga đá khác được tìm thấy ở Trà Vinh năm 1902, nhưng thuộc văn hóa Óc Eo, hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh, có niên đại thế kỷ VII-VIII. Tượng thể hiện nữ thần Durga ở tư thế đứng trên bệ, phía sau có vòng cung đỡ, đầu đội mũ trụ. Tượng cao 75cm, có bốn tay, hai tay phía sau cầm tù và (tay phải) và kim luân (tay trái), hai tay phía trước tựa lên hai trụ đỡ, đầu đội mũ trụ, gương mặt đầy đặn với đôi mắt mở và đôi môi hé cười. Ngực để trần, dưới mặc sarong có nhiều nếp gấp nhấp nhô hình sóng nước với chiếc thắt lưng bó lấy thân hình thon thả. Pho tượng đã được công nhận Bảo vật quốc gia năm 2013.
- Qua nghiên cứu, so sánh sự tương đồng về loại hình có thể nhận thấy, pho tượng Nữ thần Durga hồi hương là một trong số hiếm hoi tượng Nữ thần Durga trong nghệ thuật Champa hiện biết và là pho tượng bằng đồng duy nhất, có kích thước lớn nhất, đẹp nhất, hiện biết thuộc nền nghệ thuật nổi tiếng này.
Nếu so sánh với pho tượng đá Durga - một tác phẩm hiếm hoi được phát hiện đầu thế kỷ XX, tại làng Bích La, tổng Bích La, tỉnh Quảng Trị (hiện lưu giữ tại Bảo tàng Guimet, Cộng hòa Pháp), chúng ta sẽ thấy ngay sự khác biệt và độc đáo khá rõ nét của tượng đồng Nữ thần Durga mới hồi hương. Tượng có thân hình thanh thoát, cao, thon và cân đối hơn, kích thước tương tự người thực (cao 157cm), khuôn mặt hình trái xoan, cặp mắt có tròng, nhắm hờ, sống mũi cao, cằm tròn, miệng cười mỉm, ngón chân và tay thon, dài, đường nét sống động, mềm mại, toát lên sự sống động, an lạc thần thánh nhưng gần gũi của người nữ giới. Quan sát hình tượng của nữ thần có thể dễ dàng nhận thấy những đặc trưng vốn có của nghệ thuật tạo hình trong văn hoá Óc Eo giai đoạn đỉnh cao, và là giai đoạn đầu trong nghệ thuật điêu khắc Champa. Đây cũng chính là những đặc điểm để các nhà nghiên cứu xác định niên đại thế kỷ VII (Mỹ Sơn E.1) cho pho tượng. Đồng thời, căn cứ vào đặc điểm, hình thức thể hiện, có thể xác định pho tượng này mang đặc điểm của Kushmanda (Trứng vũ trụ): hiện thân của Shakti, nguồn gốc của vạn vật, là hoá thân của Durga, tượng trưng cho Đấng tạo hóa đã mang ánh sáng đến vũ trụ tăm tối bằng nụ cười rạng rỡ của mình, là nguồn năng lượng sáng tạo, ngự trị trong lõi Mặt trời, ban tặng sức khỏe và sức mạnh.
Trong khi đó, pho tượng Bích La được thể hiện với phần đầu quá lớn so với phần thân. Thân trên hơi ngắn, bộ ngực to mập mạp, bụng hơi phệ, khuôn mặt rộng, cằm ngắn, trán hẹp và dẹt, mũi to, mắt dài, cặp lông mày nổi cao, giao nhau, miệng rộng, môi dày toát lên vẻ dữ dằn, mạnh mẽ của phong cách Đồng Dương, thế kỷ IX - X.
So sánh rộng hơn với các tượng đồng thuộc văn hóa Champa thì tượng nữ thần Durga mới hồi hương là pho tượng đồng có kích thước lớn nhất hiện biết: Tượng đồng Quan Âm Đại Hữu, niên đại thế kỷ VII, cao: 52cm hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh; Tượng đồng Bồ tát Tara, niên đại năm 875, cao: 114cm, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, Đà Nẵng; Tượng Phật Đồng Dương, cao: 119cm (cả bệ), hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố. Hồ Chí Minh. Các pho tượng trên đều đã được Chính phủ công nhận Bảo vật quốc gia.
Như vậy, pho tượng Nữ thần Durga hồi hương có hình thức độc đáo, nghệ thuật tạo hình đặc sắc, vượt trội về thẩm mỹ, kích thước so với những pho tượng ở giai đoạn muộn hơn.
- Bên cạnh đó, pho tượng đồng Nữ thần Durga mới hồi hương còn mang những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật.
Việc xuất hiện tượng quy mô lớn như tượng Nữ thần Durga cho thấy Champa ở thế kỷ VII đã đạt trình độ tổ chức xã hội phát triển, với các công trình tôn giáo lớn: Chỉ những trung tâm của cung đình hoặc tôn giáo lớn mới đủ nguồn lực để đúc tượng đồng lớn như vậy. Và một pho tượng lớn, giá trị như tượng Durga phải được đặt trong một công trình tôn giáo với quy mô tương xứng... Thời kỳ này, Trà Kiệu chính là trung tâm chính trị, Mỹ Sơn là trung tâm tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng của Champa.
Sự xuất hiện tượng Nữ thần Durga Champa ở thế kỷ VII, phảng phất phong cách nghệ thuật của văn hoá Óc Eo giai đoạn muộn cùng với những nét tương đồng với tượng Koh Krieng, một pho tượng nổi tiếng có niên đại thế kỷ VII hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng quốc gia Campuchia, cho thấy Champa ở thế kỷ VII đã có sự giao lưu văn hóa với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á chịu sự ảnh hưởng sâu đậm của văn hoá Ấn Độ.
Tượng đồng Nữ thần Durga mới hồi hương và những hiện vật đồng loại phát hiện tại các đền tháp Champa cổ xưa, là bằng chứng phản ánh đời sống văn hóa, tín ngưỡng và sự phát triển của Hindu giáo (Saivism) tại Vương quốc Champa thời cổ đại. Sự tồn tại của pho tượng còn cho thấy, trong suốt chiều dài lịch sử, nhánh thờ thần Siva (Saivism) luôn là dòng tôn giáo chính thống của vương quốc Champa. Tượng đồng Durga vừa mang ý nghĩa tôn giáo linh thiêng, vừa là biểu tượng quyền lực và sự bảo hộ cho cộng đồng và vương triều, trong suốt quá trình hình thành, phát triển của quốc gia này.
- Về giá trị nghệ thuật tạo hình, tượng đồng Nữ thần Durga được đánh giá là tác phẩm điển hình của nghệ thuật tạo hình Champa giai đoạn sớm. Tượng được thể hiện trong tư thế đứng vững chắc, lệch hông, thân hình thanh mảnh, cân đối, các chi tiết cơ thể, trang phục, trang sức, được thể hiện chi tiết, hài hòa, mang tính biểu tượng cao. Đặc biệt, gương mặt nữ thần nhẹ nhàng, thanh thoát nhưng toát lên vẻ quyền uy - tinh thần “Durga chiến thắng” - một trong những đặc trưng của nghệ thuật Ấn Độ giáo, nhưng đã được bản địa theo phong cách của nghệ thuật Champa. Bố cục tổng thể hài hòa giữa tả thực và ước lệ, kết hợp khéo léo giữa mỹ thuật tôn giáo và biểu tượng quyền lực đã tạo nên một kiệt tác có sự giao thoa và tiếp biến, như một đặc điểm trên pho tượng này nói riêng và nghệ thuật Hindu giáo nói chung của Champa. Đây chính là phong cách tiêu biểu của giai đoạn Mỹ Sơn E1, được các nhà nghiên cứu xác định là đỉnh cao của nghệ thuật Champa sớm.
- Về kỹ nghệ đúc đồng, trong nghệ thuật điêu khắc Champa, chúng ta vẫn thường mặc nhiên về thế mạnh là điêu khắc đá, với nhiều kiệt tác được ghi danh, nhưng với pho tượng đồng Nữ thần Durga, tượng Bồ tát Tara và một số tượng Thần, Phật khác được đúc bằng đồng, đã minh chứng rõ cho một kỹ thuật đúc đồng của người Champa đạt đến đỉnh cao, dẫu rằng, đây không phải là thế mạnh của họ. Tượng thần Durga được đúc liền khối không có dấu ghép mảnh hoặc mối hàn, chứng tỏ trình độ kiểm soát nhiệt độ và độ chảy của hợp kim rất tốt. Các chi tiết nhỏ như búi tóc, trang sức, hoa văn… đều được đúc trực tiếp trong khuôn, thể hiện khả năng tính toán chính xác của nghệ nhân ngay từ khâu tạo khuôn. Các dấu vết kỹ thuật còn lại trên bề mặt, như vết mài, đánh bóng và chỉnh sửa sau đúc cho thấy thợ đúc Champa đã sử dụng những công cụ tinh xảo để hoàn thiện bề mặt, đạt đến độ nhẵn, bóng, chi tiết mà vẫn giữ được sự mềm mại, sống động của hình khối. Họ đã làm chủ được kỹ thuật và công nghệ đúc, sánh ngang với những công nghệ làm đồ kim hoàn và điêu khắc đá, cho dù những kiệt tác của sản phẩm đúc đồng của người Champa cổ để lại đến nay không nhiều.
Có thể nói, tượng đồng Nữ thần Durga là pho tượng kim loại lớn nhất, đại diện tiêu biểu, đặc sắc của nghệ thuật văn hóa Champa được phát hiện cho đến nay, là cổ vật thuộc loại quý hiếm, có nhiều giá trị độc đáo về lịch sử, văn hóa, mỹ thuật Việt Nam, và có một “hành trình” đặc biệt để đến với Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Hiện vật đã được Thủ tướng công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2025. Tới đây, sau thời gian tiến hành xử lý bảo quản, trong kế hoạch nhằm phát huy giá trị bảo vật, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia sẽ tổ chức trưng bày, giới thiệu tới công chúng tượng Nữ thần Durga cùng các hiện vật khác được hồi hương gần đây.
Tường Long
TÀI LIỆU THAM KHẢO, bản dịch của Lê Thành, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.
1. WENDY DOINGER O’FLAHERTY, 2005. Thần thoại Ấn Độ
2. NGÔ VĂN DOANH, 2014. Nghệ thuật Chămpa - câu chuyện của những pho tượng cổ, NXB Thế giới, Hà Nội.
3. NGÔ VĂN DOANH, 2019. Tượng cổ Champa. NXB Văn hóa - Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh.
4. NGÔ VĂN DOANH, 2023. Nghệ thuật Champa. Tượng các thần Hindu giáo, NXB Đà Nẵng.
5. HUỲNH THỊ ĐƯỢC, 2010. Điêu khắc Chăm và Thần thoại Ấn Độ, Nxb Đà Nẵng.