Tóm tắt: Kho Văn bản Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện lưu giữ hơn 30.000 hiện vật, tư liệu về lịch sử cách mạng Việt Nam, đây là nguồn sử liệu quý, góp phần phản ánh một cách trung thực, khách quan bức tranh toàn cảnh về cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Một trong số những hiện vật quý hiếm đang được quản lý và bảo quản cẩn trọng tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là bản gốc cuốn Sổ vàng lưu bút tích những lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của Đảng đối với cán bộ, học viên Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc, năm 1949 - 1950. Bài viết cung cấp thông tin nguồn gốc Sổ vàng, một số nội dung và đề xuất những giải pháp để bảo tồn, phát huy giá trị của Sổ vàng trường Đảng Nguyễn Ái Quốc.
1.Nguồn gốc “Sổ vàng Trường Nguyễn Ái Quốc (1949-1950)”
Công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ của Đảng đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm từ trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 12-1924, khi từ Liên Xô về Quảng Châu, Trung Quốc, Người mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ, truyền bá phương pháp đấu tranh cách mạng. Ngay khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), yêu cầu công tác đào, tạo bồi dưỡng cán bộ được triển khai đi vào chiều sâu dưới nhiều hình thức hoạt động làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Những khóa huấn luyện ngắn hạn, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ đảng viên đáp ứng yêu cầu của cách mạng được mở trong điều kiện chiến tranh nên thường xuyên phải di chuyển, có khi phải kết thúc khóa học trước thời hạn. Các đồng chí lãnh đạo của Đảng trực tiếp giảng bài. Lớp học mở trong những căn nhà của dân, số học sinh chỉ được năm bảy người và học được năm bảy ngày, có khi nửa chừng lại bị mật thám, đế quốc vây bắt.
Lớp học đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám do Trung ương Đảng tổ chức huấn luyện cán bộ, đảng viên được mở từ tháng 9 đến tháng 11-1946 tại Hà Đông. Giảng viên là cán bộ cao cấp của Đảng: Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Nguyễn Khánh Toàn, Bùi Công Trừng1. Những khóa học sau đó cho đến khi thành lập Trường Đảng mang tên lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được mang tên các đồng chí lãnh đạo, chiến sĩ cách mạng là tấm gương hy sinh anh dũng vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Lớp huấn luyện Trung ương Đảng mở ở huyện Quốc Oai gần Chùa Thầy vào mùa Xuân năm 1947. Hội trường lớp học là mượn nhờ Đình làng, học viên ở nhờ nhà dân. Lớp có khoảng 30 học viên lựa chọn từ các tỉnh miền Bắc. Lớp được đặt tên là Trần Thành để tưởng nhớ người chiến sĩ quyết tử quân đã ôm bom ba càng diệt xe tăng địch trong những ngày đầu kháng chiến của Thủ đô. Đồng chí Trường Chinh giảng về đường lối, chủ trương kháng chiến chống Pháp, sau này là nội dung chính trong tác phẩm nổi tiếng “Kháng chiến nhất định thắng lợi”; đồng chí Hoàng Quốc Việt giảng về công tác quần chúng của Đảng; đồng chí Lê Đức Thọ giảng về công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức và cán bộ.
Học viên khóa này sau trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng: đồng chí Lê Đức Bình, Phó Trưởng ban thứ nhất Ban Tổ chức Trung ương Đảng những năm 1982-1986, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V,VI, VII, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; đồng chí Lê Thành, Ủy viên Trung ương Đảng khóa III, Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương; đồng chí Nguyễn Tuân, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp.
Mùa Thu năm 1947, Trung ương lại mở lớp huấn luyện tại một khu rừng ở Định Hóa trong căn cứ địa Việt Bắc. Lớp học được lấy tên Tô Hiệu, một đồng chí lãnh đạo của Đảng hy sinh tại nhà tù Sơn La. Hội trường dựng bằng tre, nứa lá, học viên ăn ở nhờ nhà sàn của đồng bào dân tộc gần đó. Đồng chí Lê Đức Thọ khai giảng lớp học và là giảng viên chính về công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức và cán bộ. Các đồng chí lãnh đạo của Đảng phân công nhau đến giảng bài. Lớp này có thêm đồng chí Lê Văn Lương giảng về nguyên lý của chủ nghĩa Lênin. Lớp học được một tháng thì giặc Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn mở đầu cuộc tấn công lên căn cứ địa Việt Bắc. Trung ương quyết định kết thúc lớp học sớm để các học viên trở về địa phương công tác2
Tháng 2-1949, Trường Nguyễn Ái Quốc được thành lập, đồng chí Trường Chinh làm Hiệu trưởng, Hiệu phó là các đồng chí: Trịnh Đình Cửu, Đào Duy Kỳ, Hà Huy Giáp, Lê Tất Đắc. Sau đó, lại mở lớp cho biên giới, gọi là lớp Trần Phú3. Địa điểm đầu tiên của Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc đặt tại Làng Luông, xã Bình Thành, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Tháng 9 -1949, cơ sở vật chất, quy mô đào tạo của Trường được nâng cao. Trường mở khóa II, số học viên tăng đáng kể, là 175 học viên4, đến cuối tháng 11 số học viên vào số 200 người, trình độ tỉnh ủy và khu ủy. Có cả đại biểu Trung, Nam cùng dự. Có 7 phụ nữ5.
“Sổ vàng Trường Nguyễn Ái Quốc” ra đời từ những ngày đầu thành lập Trường, trong bối cảnh bộ máy quân - dân - chính - đảng các cấp quyết tâm vượt qua mọi thử thách để từng bước vượt lên về mọi mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa. Nhiệm vụ đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ lý luận và thực tiễn cách mạng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến đã bước sang giai đoạn chiến lược mới, chuẩn bị lực lượng cho kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ.
Cuốn “Sổ vàng Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc” có lịch sử hình thành trong thời gian 8 tháng, từ đầu tháng 9-1949 đến ngày 2-5- 1950. Sổ vàng lưu giữ bút tích của 28 vị lãnh đạo, lão thành tiền bối của cách mạng Việt Nam năm 1949-1950. Mở đầu là trang số 5 ghi lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những trang tiếp theo là bút tích các đồng chí trong Bộ Chính trị, lãnh đạo Nhà trường, thế hệ giảng viên đầu tiên của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Cù Vân (Nguyễn Lương Bằng), Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Quốc Việt, Đào Duy Kỳ, Trần Đăng Ninh, Lê Tất Đắc, Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Hoàng Tùng, Hoàng Văn Thái, Hoài Thanh, Trần Huy Liệu, Hà Phú Hương, Lê Đình (Trịnh Đình Cửu), Lê Thanh Nghị, Trần Văn Giàu, Hồ Viết Thắng, Lê Văn Hiến, Hà Huy Giáp, Mộc Công (Hồ Tùng Mậu) và trang cuối là bút tích nhà báo Léo Figueres, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp khi đến thăm Trường, ngày 2-5 -1950.
Tháng 8-1950, Trường chuyển lên xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Do hoàn cảnh của cuộc kháng chiến, Trường phải chuyển địa điểm nhiều lần ở các huyện Yên Sơn và Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang trước khi chuyển về Hà Nội. Đồng chí Đào Duy Kỳ, Phó Giám đốc Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc năm 1949-1951 là một trong những thế hệ lãnh đạo đầu tiên chứng kiến và tham gia vào các sự kiện liên quan đến cuốn Sổ vàng. Lời dặn dò của đồng chí được ghi tại trang 28 của Sổ vàng, tháng 12-1949.
Năm 1959, tại Hội nghị Dân quân ở Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang, đồng chí Nguyễn Thiệu6 và đồng chí Đào Duy Kỳ7 đã tiếp nhận cuốn “Sổ vàng trường Nguyễn Ái Quốc” đưa về lưu giữ tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia). Cuốn sổ có chiều dài 27 cm, rộng 21,5 cm, bìa cứng bọc vải màu đỏ, trang bìa lót in chữ “Trường Nguyễn Ái Quốc - Sổ vàng - 1949”. Hiện vật mang số ký hiệu BTCM 1768/Gy 532, gồm 72 trang kể cả các trang bìa lót.
2. Thông tin về bút tích các đồng chí lãnh đạo viết trong Sổ vàng
Là cơ quan hiện đang quản lý, gìn giữ cẩn trọng hiện vật “Sổ vàng Trường Nguyễn Ái Quốc (1949-1950)”, với tư cách là những người nghiên cứu, chúng tôi đã gặp gỡ một số chuyên gia nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp cận những tư liệu gốc, đồng thời, những nguồn thông tin cần cho việc thẩm định tác giả của bút tích lưu tại Sổ vàng.
Về sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Trường: Hiện chưa tìm thấy số báo Cứu quốc và các báo năm 1949 đưa tin về sự kiện. Sổ vàng để trống trang 2,3,4. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người viết trang 5, là trang đầu tiên có bút tích; dưới chữ ký, Người chỉ viết tháng 9-1949, không ghi ngày cụ thể. Trang 7 kế tiếp là bút tích của đồng chí Trường Chinh ghi rõ thời gian là ngày 5-9-1949. Như vậy, có thể đưa ra giả thuyết Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người đầu tiên viết trên Sổ vàng, các đồng chí lãnh đạo dành những trang đầu để xin huấn thị của Người. Những ngày đầu thành lập Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng tháng đến, lên lớp. Theo Hà Huy Giáp, Người nói chậm rãi, không văn hoa. Đọc đi nghe chưa thấy hay. Đọc lại mới thấy hay8.
Về chữ viết: So sánh bút tích và chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1959 thì nét chữ tại Sổ vàng đẹp hơn, tuy nhiên chữ ký Hồ Chí Minh có nét ngang phía dưới tương đồng với chữ ký của Người tại các văn bản năm 1959: Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi du kích Hồng Sinh, xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, tháng 1-19499; Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ông Phan Kính và Trần Lê Hữu, xã Nam Liên, Nam Đàn, Nghệ An, tháng 4-194910. Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các đồng chí Liên khu IV, tháng 9-194911. Dưới chữ ký của Người có đóng dấu màu đỏ, đảm bảo tính chân thực về bút tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trang 5 của Sổ vàng.
Sổ vàng để trống 8 trang (từ trang 20 đến trang 27). Từ trang 5 đến trang 19 là bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Văn Đồng, Trần Đăng Ninh. Từ trang 28 đến trang 66 là bút tích của đại biểu và các đồng chí lãnh đạo là giảng viên giảng các chuyên đề dài hạn và ngắn hạn tại Trường. Ngoài các đồng chí ký rõ tên hoặc bí danh như Cù Vân (Nguyễn Lương Bằng), Lê Đình (Trịnh Đình Cửu), Mộc Công (Hồ Tùng Mậu), một số đồng chí chỉ ký và không ghi rõ họ tên. Đối chiếu, so sánh tư liệu gốc có bút tích, chữ ký của các đồng chí lãnh đạo và các nguồn sử liệu, chúng tôi khẳng định thêm thông tin về bút tích và chữ ký của các đồng chí không ghi rõ họ tên: Nguyễn Chí Thanh, Lê Văn Hiến, Trần Văn Giàu, Hoài Thanh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Thái…
3.Bảo tồn và phát huy giá trị hiện vật tại Bảo tàng
Bảo tàng Lịch sử quốc gia hiện lưu giữ và trưng bày hơn 200.000 hiện vật, tư liệu về lịch sử Việt Nam từ thời Tiền sử đến ngày nay, trong số đó có nhiều sưu tập hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh, các lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam, các vị anh hùng dân tộc, các nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử cách mạng Việt Nam…
Sổ vàng được lưu giữ cẩn trọng tại kho Văn bản từ năm 1959 đến nay, bìa cuốn sổ màu đỏ đã ngả màu theo thời gian, chữ viết trong từng trang đang có dấu hiệu mờ dần, nhiều trang chữ khó đọc nhưng những trang viết vẫn còn nguyên hồn cốt nét mực của các đồng chí lãnh đạo năm xưa. Thông tin lịch sử hiện vật dần được sáng tỏ qua đối sánh bút tích, tư liệu gốc, hồi ký của các đồng chí lãnh đạo và nhân chứng lịch sử. Bút tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trang 5 của Sổ vàng đã được công bố trên tài liệu chính thống của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản và tái bản 3 lần: Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, tập 4 (12/1946 - 12/1950); Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 (1949-1950). Từ tư liệu gốc lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, chúng ta cần rà soát cẩn trọng trước khi xuất bản, công bố các câu viết của lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo tiền bối.
Để những lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo trong “Sổ vàng Trường Nguyễn Ái Quốc 1949-1950” trở thành di sản đặc biệt mang giá trị một bảo vật quốc gia, nhiệm vụ của các thế hệ hậu bối là cần triển khai một hệ thống giải pháp tổng thể, kết hợp giữa bảo tồn và phát huy giá trị, cụ thể như sau:
Thứ nhất, giải pháp bảo quản phòng ngừa: thường xuyên kiểm tra tình trạng hiện vật, hạn chế tối đa ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, kiểm soát dấu hiệu biến đổi, hư hại xuống cấp để kịp thời bảo quản trị liệu đảm bảo duy trì hiện vật ở tình trạng tốt nhất và lưu giữ được lâu dài. Đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống kho bảo quản hiện vật với các trang thiết bị cần thiết để kiểm soát môi trường đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, thường xuyên kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm trong môi trường kho bảo quản phù hợp với từng chất liệu cụ thể.
Thứ hai, giải pháp bảo tồn và số hóa tài liệu gốc: Tiến hành tu sửa và phục chế bản gốc, số hóa toàn bộ nội dung hiện vật “Sổ vàng trường Nguyễn Ái Quốc (1949 -1950)” và xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử, ứng dụng công nghệ số để phục vụ học tập, nghiên cứu.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác truyền thông và phát huy giá trị của Sổ vàng: tiếp tục tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế, thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, tổ chức trưng bày chuyên đề, triển lãm cố định và lưu động tại hệ thống các trường chính trị, các trường học, bảo tàng, khu di tích cách mạng. Tiến hành dịch sang tiếng Anh/Pháp, Trung để đưa vào các kho tư liệu toàn cầu về các di sản tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng. Phối hợp với các đơn vị biên soạn sách, tài liệu giảng dạy; tích hợp nội dung từ Sổ vàng vào giáo trình đào tạo; đưa vào các hoạt động giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ.
Hiện vật “Sổ vàng trường Nguyễn Ái Quốc (1949 -1950)” hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là bản nguyên gốc, độc bản mang những giá trị đặc biệt về tư tưởng, lịch sử, văn hóa, giáo dục rất cần được nghiên cứu, khai thác giá trị của hiện vật, tiến tới xây dựng hồ sơ khoa học và thực hiện quy trình về việc đề nghị công nhận Bảo vật quốc gia theo quy định của Luật Di sản văn hóa và các văn bản pháp quy. Đây cũng là cơ sở để tiến hành chế độ bảo quản đặc biệt cho hiện vật và giới thiệu, phát huy giá trị hiện vật tới công chúng.
1.Phạm Thành: “Những kỷ niệm sâu sắc của tôi về đồng chí Lê Đức Thọ”, in trong Lê Đức Thọ - Người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng (Hồi ký), Nxb CTQG, H, 2011, tr. 359
2. Lê Đức Bình: “Vài kỷ niệm nhỏ về người anh hùng của ngành tổ chức”, in trong: Lê Đức Thọ - Người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng (Hồi ký), Nxb CTQG, H, 2011, tr. 294-295.
3,8. Giáp Hà Huy Giáp: Đời tôi, những điều nghe thấy và sống (Hồi ký cách mạng), Nxb CTQG, H, 1996, tr.159
4. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Học viện Chính tị quốc gia Hồ Chí Minh 70 năm truyền thống vẻ vang, Nxb Lý luận chính trị, H, 2019, tr. 44
5. Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, T. II (1949-1951), Nxb CTQGST, H, 2023, tr. 239
6. Trưởng ban xây dựng Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam năm 1959.
7. Bí thư Xứ ủy Băc Kỳ; Trưởng tiểu ban Huấn học kiêm Phó Giám đốc Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương; Vụ trưởng Vụ Văn hóa đại chúng; Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Là Thư ký Hội đồng khoa học đầu tiên của Bảo tàng, đồng chí Đào Duy Kỳ thấy được tầm quan trọng cũng như giá trị đặc biệt của Sổ vàng Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương nên đã sưu tầm đưa về lưu giữ và bảo quản tại Bảo tàng.
9. Lưu tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
10, 11. Thanh Am: Chủ tịch Hồ Chí Minh một huyền thoại kỳ vĩ, Bút tích, hình ảnh và những câu chuyện về phẩm cách của Người, Nxb Hồng Đức, H, 2008, tr 39, 42
TS. Nguyễn Văn Đoàn