Thứ Hai, 06/07/2020
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

21/05/2020 09:56 173
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Vua huý là Thì (Thời), tên đặt theo Đế hệ thi là Hồng Nhậm, sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1829) là con trai thứ 2 vua Thiệu Trị. Mẹ là Phạm Thị Hằng, con gái Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng người huyện Tân Hoà, Gia Định. Tháng giêng năm Thiệu Trị 3 (1843) Ngài 14 tuổi được triều đình phong làm Phúc Tuy Công, Ngài còn được ban ấn vàng Phúc Tuy công ấn và ấn bạc Phúc Tuy Quan phòng. Tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), Hồng Nhậm lên nối ngôi ở điện Thái Hoà, lấy niên hiệu là Tự Đức, lúc 19 tuổi.

Vua là người rất có hiếu với cha mẹ. Khi mới lên ngôi, Tự Đức làm tang vua cha cực kỳ cẩn thận, trang trọng. Vua cũng rất có hiếu với mẹ là bà Từ Dũ. Vua tự quy định, ngày lẻ trong tháng thì thiết triều, ngày chẵn vào chầu thăm mẹ. Nhiều phiến tấu còn lại có chữ son “châu phê” thì thấy “vua phê còn dài hơn lời tâu”, chứng tỏ nhà vua rất chăm chỉ và cẩn thận việc chính sự. Nhà vua ở ngôi 36 năm (1847-1883), mất ngày 16/6 năm Quý Mùi (19/7/1883), hưởng thọ 55 tuổi. Sau khi mất, bài vị nhà vua được đưa vào thờ trong Thế Miếu và có Miếu hiệu Dực Tông Anh Hoàng Đế.

 

Vua Tự Đức không có con, nên nhận 3 người cháu gọi bằng chú làm con nuôi là:

Nguyễn Phúc Ưng Chân, sau này là vua Dục Đức.

Nguyễn Phúc Ưng Đường, sau này là vua Đồng Khánh.

Nguyễn Phúc Ưng Đăng, sau này là vua Kiến Phúc.

Trong sưu tập bảo vật triều Nguyễn do Bảo tàng Lịch sử Quốc Gia lưu giữ hiện còn 4 Kim Bảo ấn sau đây đúc dưới đời vua Tự Đức:

1. Kim ấn: Tự Đức thần hàn. Ấn đúc bằng vàng, 2 cấp hình vuông, quai là tượng rồng chầu, 2 chân trước chống, 2 chân sau quỳ, đầu ngẩng, mũi cao, bờm dài, đuôi xoáy. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: Thập tuế hoàng kim, thất thập lục lạng lục tiền ngũ phân (Vàng 10 tuổi, nặng 76 lạng 6 tiền 5 phân).

- Bên phải: Tự Đức nguyên niên nhị nguyệt cát nhật tạo. (Đúc vào ngày lành tháng 2 năm năm Tự Đức 1, 1848).

Mặt ấn đúc nổi 4 chữ Triện trong khung diềm: Tự Đức Thần hàn. (Văn từ ở cung vua Tự Đức).

 

Tiến sĩ Nguyễn Công Việt đã giới thiệu trong cuốn sách Ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX hình dấu Tự Đức Thần hàn đóng trên một bản “châm” có chữ son của vua Tự Đức viết vào ngày 7 tháng 7 năm Tự Đức (1855).

2. Kim Bảo: Dực Tông Anh Hoàng đế chi bảo (N.27). Kim ấn này được đúc bằng vàng, 2 cấp hình vuông, quai hình rồng đang bay, đầu ngẩng, lưng cong, đuôi uốn, 4 chân rồng 5 móng, tư thế co lại. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: Sứng trọng nhất bách tam lạng lục tiền. (Cân nặng 103 lạng 6 tiền).

- Bên phải: Tự Đức tam thập lục niên thập nhất nguyệt cát nhật phụng chú tạo. (Phụng mệnh đúc vào ngày lành tháng 11 năm Tự Đức 36, 1883).

Mặt ấn đúc nổi 7 chữ Triện: Dực Tông Anh Hoàng đế chi bảo (Bảo của Dực Tông Anh Hoàng đế).

 

Như vậy, Kim Bảo ấn này được đúc ngay sau khi vua Tự Đức băng hà mang Miếu hiệu và Thuỵ hiệu để thờ trong Thế Miếu.

3. Kim ấn: Mông dĩ dưỡng chính Thánh công dã..

Ấn đúc bằng vàng, 1 cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, đầu quay sang phải, đuôi uốn, chân rồng 4 móng. Lưng ấn bên trái khắc 1 dòng chữ Hán: Thập tuế kim, trọng thất lạng thất tiền bát phân. (Vàng 10 tuổi, nặng 7 lạng 7 tiền 8 phân).

Bốn cạnh bên đều khắc chữ Hán:

- Sắc tứ hoàng nhị tử công. (Ban cho Hoàng tử thứ 2 tước công).

- Đồng Khánh tiềm để chí bảo. (Bảo của Đồng Khánh ở Tiềm để).

- Tự Đức Tân Tỵ gia bình. ,

- Lợi đa xuất các vị hiệu.

Mặt ấn đúc nổi 7 chữ kiểu chữ chân và dấu quẻ Tốn trong khung diềm ô vuông.

 

Theo sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, “Nguyễn Phúc Biện tức là Nguyễn Phúc Ưng Đường là con trưởng của Kiến Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai, mẹ là Thái vương phi Bùi Thị Thanh… Năm Ất Sửu (1865) lúc lên 2 tuổi Ngài được vua Dực Tông đưa vào cung giao cho bà Thiện phi Nguyễn Thị Cẩn nhận làm Dưỡng tử. Năm Kỷ Mão (1879) vua chuẩn cho Ngài ra ở Chính Mông đường để học hành, nên Ngài thường được gọi là Ngài Chính Mông”.

Như vậy, có thể xác định kim ấn này Nguyễn Phúc Biện được vua Dực Tông ban cho khi được lập Hoàng Thái tử vào năm 1879.

4. Kim ấn: Chính Mông. Ấn đúc bằng bạc, 1 cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, lưng cong, đuôi uốn, 4 chân chùng. Lưng ấn để trơn nhưng trên cạnh phía trước đầu rồng khắc 1 dòng chữ Hán: Đồng Khánh Tiềm để. (Đồng Khánh lúc ở Tiềm để). Mặt ấn đúc nổi 2 chữ Triện trong khung hồi văn: Chính Mông. Đây là kim ấn do vua Dực Tông ban cho Nguyễn Phúc Biện vào năm 1879.

 

TS. Nguyễn Đình Chiến

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 572

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Ba Bảo vật Quốc gia - Di sản vô giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Ba Bảo vật Quốc gia - Di sản vô giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  • 12/05/2020 15:37
  • 215

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn. Cả cuộc đời, Người đã cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mang lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng Người đã để lại cho toàn Đảng và toàn dân ta một di sản vô giá, đó là Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy được khắc hoạ rõ ràng và sâu sắc trong những tác phẩm, bút tích mà Người để lại, và đến nay, 05 trong số đó đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia, bao gồm: "Đường Kách mệnh"; “Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù)”; “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”; “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” và “Bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.